Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

LỊCH

Gốc > GÓC VĂN HỌC >

ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY: "ĐI LỄ CHÙA" CỦA DƯ THỊ HOÀN


                                                   img_2358_500

ĐI LỄ CHÙA

                                                                        (Dư Thị Hoàn)


       Đi lễ chùa là một việc làm thành kính trong những dịp đầu năm. Đó là một nét đẹp văn hoá nói riêng ở nước ta và của khu vực Đông Á nói chung. Nhìn những lượt người nô nức đi lễ chùa càng tô đậm thêm sự thiêng liêng thành kính.
       Song một câu hỏi được đặt ra tưởng như dễ trả lời - Đi lễ chùa để làm gì? Vô vàn câu trả lời, nhất là ở cái thời kỳ “phú quý sinh lễ nghĩa”, cái thời mà nhu cầu cuộc sống được mở rộng, khi mà đời sống vật chất không còn cấp bách thì chính là lúc nảy sinh những vấn đề dời sống tinh thần. Mục đích của việc đi lễ chùa thí rất đa dạng như: cầu may, cầu tài lộc, cầu phúc... thôi thì đủ cả, muôn màu  muôn vẻ của cuộc sống.
                           Đến với bài thơ "Đi lễ chùa" của Dư Thị Hoàn.

Năm người đàn bà cùng ngồi trên xe ngựa
Tay khư khư ôm đầy vật tế lễ
Người thứ nhất thở dài:
-    Tội nghiệp nhất là người đàn bà không chồng!
Người thứ hai chép miệng:
-    Vô phúc nhất người đàn bà không con!
Người thứ ba cười buông:
-    Bất hạnh nhất người đàn bà không khóc nổi trước mặt chồng!
Người thứ tư điềm đạm:
-    Tuyệt vọng nhất người đàn bà không cười được khi thấy con!
Người thứ năm:
-    Mô phật.
Lão xà ích giật dây cương
Roi quất tung bụi đường.


       Ta như nhận thấy được giá tri, gọi về bản chất ban sơ của việc đi lễ chùa đó là: đi tìm kiếm sự thảnh thơi của cõi lòng. Trước không gian trầm tịch của ngôi chùa, mùi hương trầm như thấu suốt cả vị lai của cõi nhân sinh...tất cả sẽ đưa lại cho ta cảm giác thư thái mang sắc điệu tâm linh hiếm khi có được ở không gian đời ngoài kia.
       Bài thơ này Dư Thị Hoàn chủ yếu đi sâu bộc lộ tâm trạng của năm người đàn bà. Năm người đàn bà trên chuyến xe ngựa hôm ấy đi lễ chùa cũng chỉ để cầu mong sự thanh thản. Năm người với năm trạng thái xúc cảm khác nhau, nhưng đều giống nhau ở khát khao có được sự yên ổn trong tâm hồn.
Dường như chuyến xe ngựa này được người xà ích điều khiển bằng sức mạnh của chuyển pháp luân, nên năm người đàn bà đã đi vào hành trình giác ngộ, họ đã dần dần đạt được sự thanh thản. Nhưng đốn ngộ trước lúc tới chùa, duy chỉ có một người chứ không phải tất cả. Thiết  nghĩ đó cũng là một điều thiêng liêng không dễ gì gặp được.
       Bằng cài nhìn, bằng tâm trạng của một nhà thơ nữ Dư Thị Hoàn đã gói nỗi đau nhân tính vào cái nhìn phóng chiếu của phái nữ - những người bao giờ cũng sôi nổi nhất trước hạnh phúc và cũng quằn quại nhất trước thương đau. Bằng thư pháp: độc thoại nội tâm, nhà thơ đã giúp họ sẻ chia nỗi lòng của riêng mình.
Năm người với năm cảnh ngộ: Người thứ nhất không chồng, người thứ hai không con, người thứ ba không khóc được trước chồng, người thứ tư không cười được khi thấy con. Bốn mặt trái, bốn đớn đau của hạnh phúc và tình yêu. Riêng người thứ năm chỉ im lặng và niệm Mô phật. Đây là điều khác biệt so với bốn người trước và cái hay của bài thơ cũng đọng lại ở đây.
Người thứ nhất thở dài:
-    Tội nghiệp nhất người đàn bà không chồng
Ước mong của người phụ nữ là có một người chồng bên cạnh để sẻ chia mọi nỗi buồn vui của cuộc đời đó là niềm tin và lẽ sống, ấy vậy mà họ lại không có được điều đó, họ rơi vào nỗi cô lẻ, ái tình thiếu đi một nửa, suốt đời mang gánh dở giang.
Người thứ hai chép miệng:
-    Vô phúc nhất người đàn bà không con
Thiên chức của người phụ nữ là được làm mẹ, con cái chính là niềm tin và lẽ sống trong cuộc đời người phụ nữ. Không có con là nỗi bất hạnh lớn nhất của người phụ nữ. Họ đánh rơi thiên chức của mình như bông hoa không cho quả lấy gì tiếp nối về sau. Con cái là phúc phận của người phụ nữ,  không con lấy gì để gọi là hưởng phúc?
Nhưng có lẽ đó không phải là tột cùng của nỗi đau. Trong đời người mấy ai được hưởng trọn niềm vui niềm hạnh phúc, ai chẳng mang nỗi niềm u uất
Người thứ ba cười buông:
-    Bất hạnh nhất người đàn bà không khóc nổi trước mặt chồng!
Có chồng mà không thể cùng chồng sẻ chia tấm lòng, không thể nương tựa vào chồng những lúc khổ đau, anh ta không phải là điểm tựa cho mình gục vai và hồn nhiên khóc. Nỗi buồn niềm vui không thể bộc lộ ra ngoài mà chỉ dấu vào trong. Bất hạnh thay khi cuộc sống vợ chồng thiếu vắng sự cảm thông chia sẻ
Người thứ tư điềm đạm:
-    Tuyệt vọng nhất người đàn bà không cười được khi thấy con!
Đứa con là linh hồn, là niềm tin, là lẽ sống của người mẹ. Ấy vậy mà người mẹ không cười được khi nhìn thấy con, thì đây chính là nỗi đau vô bờ bến, chính hy vọng lại cướp đi hy vọng của người mẹ.
Bốn người phụ nữ với bốn tâm sự, cái vô thường trong đời sống tinh thần của người phụ nữ được thâu tóm, ai cũng cho mình đau khổ nhất. Để diễn tả cái nhất sự đau khổ của mình họ đã diễn đạt bằng tính từ chỉ tâm trạng: tội nghiệp, vô phúc, bất hạnh và kết thúc ở động từ tuyệt vọng đầy nỗi đau rơi vào đáy vực sâu, tận cùng! Chỉ người thứ năm không ca thán gì mà chỉ lặng lẽ Mô Phật. Bí hiểm quá chăng? Không phải, người thứ năm đã đi trọn con đường giác ngộ - nhà thơ dửng dưng hay chủ ý khi tung người phụ nữ này vào với bốn người phụ nữ kia, buông lời Mô Phật vào giữa tiếng kêu thương. Người giác ngộ nói lời giác ngộ, giác ngộ lẽ đời.
Người thứ năm này là một trong số ít người thấu hiểu lẽ đời. Bình thản trước những đau khổ mà cuộc đời mang đến, đời là bể khổ, sinh ra ở đời là phải chịu khổ đau. Bốn người phụ nữ vẫn phần nào hiểu được nguyên do này nên người ta cũng chỉ buồn bã than tội nghiệp nhất, người ta chỉ chán chường chép miệng than vô phúc nhất, người ta chỉ nhạt nhẽo cười buông than bất hạnh nhất và người ta chỉ điềm đạm than tuyệt vọng nhất mà thôi. Từ tội nghiệp cho đến tuyệt vọng nỗi đau lên đến tột cùng, nhưng hãy xem cảm xúc của bốn người đàn bà lại theo chiều hướng ngược lại, chiều của Diệt Đế, từ "thở dài" qua chép miệng rồi đến "cười buông" đến "điềm đạm", cảm xúc đã dần dần lặng sóng để đạt đến độ từ tốn, tĩnh tại, tĩnh lặng. Nhưng chỉ có một người... Buông lời niệm "Mô phật", người thứ năm đã bước nốt con đường mà bốn người kia bỏ dở, đốn ngộ chân lý thánh mà bốn người kia vô minh. Người thứ năm là người duy nhất đã tìm cho mình một sự thảnh thơi, thanh thản trước nỗi đời.
       Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh lão xà ích đang điều khiển chiếc xe chở năm người đàn bà đi lễ chùa hay lão xà ích điểu khiển chiếc xe chở năm người phụ nữ kia thoát khỏi những đau khổ trong cuộc đời? Trong ba câu thơ cuối tác giả tung ra một lối hồng trần, đã đặt năm người đàn bà vào vòng chảy luân hồi của cuộc đời - con người ta luôn cầu mong sự thanh thản luôn cầu mong sự giác ngộ nhưng bể khổ là vô tận, tất cả chúng ta đều cầu mong sự thanh thản thôi, nhưng luôn có lão xà ích âm thầm tàn nhẫn điều khiển chiếc xe luân hồi của cuộc đời ta, ta càng gần đến sự giải thoát, lão càng quất xe tung bụi đường, bụi đời, bụi khổ đau?
 

Chiều sâu triết lý của bài thơ chính là chỗ ấy, cuộc sống là vòng tròn của luân hồi, giải thoát rồi lại rơi vào luân hồi. Chẳng lẽ nào chúng ta lại cam phận bất lực, không phải cố gắng tìm ra khe hở dù là nhỏ nhất.

    KHI ĐAU KHỔ TỘT CÙNG, NGƯỜI TA LẠI TÌM VỀ VỚI PHẬT ĐỂ CÓ CHỔ NƯƠNG TỰA.

TU LÀ CÕI PHÚC. ĐỜI LÀ BỂ KHỔ. TÌNH LÀ DÂY OAN.


       Bài thơ Đi lễ chùa mang đậm tính triết luận ở tầng sâu ngôn bản. Bài thơ là nỗi niềm thương cảm của ngươi phụ nữ, những may rủi hoạ phúc là vô thường không ai có thể trành khỏi. Đọc bài thơ ta như tìm về với sự an ủi, nhẹ nhõm hơn trước cuộc đời vốn thăng trầm, đó là giá trị lớn nhất của bài thơ


Nhắn tin cho tác giả
Trần Quốc Thường @ 11:18 01/11/2013
Số lượt xem: 1735
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến

HÌNH ẢNH KỶ NIỆM

CẢNH ĐẸP